Thị trường lao động việt nam

Thông tin chia sẻ, thảo luận về thị trường lao động tại việt nam

Thị trường lao động ASEAN: Thừa và thiếu

Posted by thitruonglaodong on August 21, 2008

Từ năm 2000-2006, 36 triệu việc làm mới đã được tạo ra từ chính sự bật dậy của các nền kinh tế ASEAN. Tuy nhiên, ASEAN là khu vực không đồng nhất về thị trường lao động. Mỗi nước đều có sự khác biệt lớn về mức thu nhập, năng suất lao động, cơ cấu việc làm và xu hướng dân số. Vì vậy, cạnh tranh lao động, cạnh tranh điều kiện lao động giữa các thành viên trong khối cũng thay đổi theo hướng gay gắt hơn nhằm thu hút lao động có chất lượng và số lượng phù hợp với yêu cầu của mỗi quốc gia. Đây sẽ là thách thức đối với những thành viên ASEAN kém phát triển hơn, trong đó có Việt Nam trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế ASEAN.

ASEAN có xấp xỉ 108 triệu lao động ở độ tuổi từ 15-24. Đây được coi là thế hệ thịnh vượng nhất của lực lượng lao động trong những năm đầu của thế kỷ 21. Trong 5 năm qua, tăng trưởng dân số của ASEAN đạt mức khá cao với tỷ lệ tăng lực lượng lao động trung bình hàng năm là 2,2%. Nếu tính chung cả 5 năm, một nguồn lực lao động dồi dào đã tăng thêm, điển hình là Campuchia (tăng trưởng 52,8%), Lào (24,5%), Philippines (20%), Brunei, Indonesia và Myanmar vẫn duy trì mức 14%. Trong khi đó, các nền kinh tế phát triển của khu vực như Singapore và Thái Lan chỉ tăng gần 9%.

Tổng số việc làm của khu vực ASEAN đã tăng với tốc độ khá mạnh 11,8%, từ mức 235,2 triệu việc làm lên 263 triệu (2006), thì tỷ lệ thất nghiệp của khu vực cũng tăng từ 5% lên 6,6%. Ngoài ra, người lao động nghèo của ASEAN vẫn còn chiếm tỷ lệ cao (56%). Trong năm 2006, hơn 148 triệu lao động của ASEAN không kiếm đủ 2 USD/ngày (ngưỡng nghèo theo chuẩn mới của LHQ). Lực lượng lao động lành nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Phần lớn người lao động ở các nước đang phát triển không có sự lựa chọn nào khác là buộc phải ký kết hợp đồng lao động không chính thức hoặc hợp đồng làm việc ngắn hạn với mức lương ít ỏi, bảo hiểm an ninh và xã hội thấp (thậm chí không có bảo hiểm).

Trong khi đó, tình trạng thiếu lao động dự kiến vẫn tăng lên ở Singapore, Thái Lan; còn lĩnh vực dịch vụ (dự kiến sẽ thu hút tới 40% lực lượng lao động ASEAN). Đây là hệ quả của sự chênh lệch phát triển, hiện đang tồn giữa các nước thành viên. Không chỉ GDP đầu người chênh lệch mà cả trình độ phát triển của các nước thành viên cũng khác nhau quá nhiều. Singapore có mức GDP bình quân đầu người cao gấp 50 lần so với Việt Nam và gấp 70 lần so với Campuchia. Trong khi Singapore được đánh giá là nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao thứ 7 thế giới thì Việt Nam chỉ được xếp thứ 68/131, Campuchia xếp thứ 110/131. Chênh lệch phát triển giữa các nước thành viên ASEAN còn được thể hiện ở chênh lệch về phát triển con người, mức độ mở cửa, cơ sở hạ tầng, sự phát triển của thị trường tài chính, cơ cấu kinh tế, năng lực tài chính…

Trong báo cáo Triển vọng lao động thích hợp cho thập niên phát triển bền vững và lao động từ nay đến năm 2015 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì năng suất lao động cao của châu Á nói chung cũng như của các nước ASEAN nói riêng đang là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu không tạo thêm được việc làm, các nước sẽ phải đối mặt với nguy cơ dư thừa lao động trong tương lai.

Những năm gần đây, Trung Quốc đã vượt hẳn ASEAN về mức tăng năng suất lao động, trong khi chênh lệch năng suất lao động giữa Ấn Độ và ASEAN đã có phần thu hẹp. Năng suất lao động của ASEAN chỉ tăng 15,5% trong khi tốc độ tăng này ở Ấn Độ là 26,9% và ở Trung Quốc tới 63,4%. Tuy nhiên, năng suất lao động trong khối ASEAN cũng có sự khác biệt khá rõ. Năng suất lao động của Singapore gấp 17 lần Campuchia, gấp 10,6 lần Myanmar. Tăng trưởng nhanh của nền kinh tế Việt Nam dựa chủ yếu vào sự tăng năng suất lao động (tăng 26,4% – mức tăng năng suất lao động cao nhất trong khu vực) và nhờ mở rộng quy mô việc làm.

Theo dự báo của ILO, đến năm 2015 ASEAN sẽ có thêm 55 triệu lao động mới (tăng 19,8% so với mức năm 2007), nhưng mức tăng mạnh nhất vẫn ở các quốc gia kém phát triển hơn như Lào, Campuchia và Philippines… Trong khi đó, lực lượng lao động của Thái Lan dự đoán chỉ tăng 1%/năm, trong khi tăng trưởng GDP sẽ đạt khoảng 4,5%, tạo nên sức ép cầu lao động khoảng 474.000 người vào năm 2011. Singapore và Thái Lan tiếp tục phải đối diện với tình trạng thiếu lao động và hậu quả kinh tế xã hội của lực lượng lao động già hóa.

Tốc độ tăng trưởng dân số, xu hướng xã hội, sức ép thị trường lao động và xu hướng toàn cầu hóa ngày càng tăng đã tác động đến tiến độ liên kết của thị trường lao động khu vực, tạo ra cả những thách thức và cơ hội việc làm trong ASEAN. Để trở thành cộng đồng kinh tế – xã hội vào năm 2015 và tự nâng cao sức cạnh tranh của khu vực, bài toán lớn mà các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp ASEAN cần giải quyết tốt là điều hòa được sự dịch chuyển luồng lao động trong chính nội bộ khu vực ASEAN.

Posted in Thị trường lao động, Tin tức | Tagged: , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Khơi gợi lòng yêu nghề ở giới trẻ

Posted by thitruonglaodong on August 21, 2008

Giúp thanh niên chọn nghề phù hợp là rất quan trọng. Trong ảnh: Học sinh học nghề tại Trường Trung cấp nghề Hùng Vương (TPHCM). Ảnh: H.NGA

Việc phát triển học vấn vẫn là xu hướng được lựa chọn chủ yếu, còn học nghề chỉ là phương án dự phòng trong thanh thiếu niênVăn hóa nghề biểu hiện trước hết ở sự nhận thức về nghề, sự lựa chọn nghề nghiệp và việc học nghề. Nói cách khác, văn hóa nghề biểu hiện ở quan niệm về sự tiếp cận các cơ hội học nghề, lựa chọn nghề và vun đắp giá trị nghề nghiệp cho tương lai. Đáng lo nhất là giáo dục nhận thức về văn hóa nghề gắn với định hướng giá trị và hành vi nghề nghiệp trong thanh thiếu niên còn rất nhiều vấn đề đáng bàn.

Xã hội trọng bằng cấp

Sự phát triển kinh tế – xã hội trong những năm qua ở VN cho thấy vẫn còn tồn tại sự phân bố chưa hợp lý về nguồn nhân lực, nổi bật nhất là tình trạng thừa thầy, thiếu thợ. Số lượng sinh viên được đào tạo qua các trường ĐH tăng mạnh, trong khi lực lượng lao động kỹ thuật, thợ tay nghề bậc cao lại thiếu hụt nghiêm trọng. Nguyên nhân cơ bản xuất phát từ nhận thức và hành vi văn hóa nghề của thanh thiếu niên. Một bộ phận đáng kể thanh thiếu niên vẫn bám giữ những giá trị, chuẩn mực nghề nghiệp cũ, coi trọng khoa cử, bằng cấp mà ít quan tâm đến các nghề lao động trực tiếp.

Một thực trạng rất đáng lo ngại là trong khi nhiều khu công nghiệp (KCN) đang được xây dựng và đi vào hoạt động thì vẫn có không ít gia đình vẫn ôm mộng khoa cử, chỉ mong muốn con cái thi đỗ ĐH và theo đuổi giấc mộng “làm quan”, “làm thầy”. Khảo sát của chúng tôi tại một số khu vực như Hà Nội, Quảng Ninh, Khu Kinh tế Dung Quất, cho thấy có tới 48,8% thanh thiếu niên cho rằng cần phải học xong THPT rồi mới tính đến những bước tiếp theo; 37% thừa nhận để vào đời thuận lợi thì tấm giấy thông hành cần thiết vẫn phải là bằng tốt nghiệp ĐH hay trên ĐH. Ngược lại, chỉ có 6,7% ý kiến nói cần phải có nghề giỏi và 1,3% trả lời không biết…

Như vậy, phần đông ý kiến vẫn cho rằng học lên cao mới là cơ sở đích thực để phát triển nghề nghiệp, còn học nghề chỉ là phương án dự phòng.

Nhận thức học nghề: Lệch hướng

Đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp là nền tảng cơ bản của quá trình tuyển chọn và sử dụng đội ngũ lao động công nghiệp. Để có thể đạt trình độ tay nghề nhất định, người lao động phải đầu tư không ít công sức, thời gian và chi phí cho việc học và thực hành nghề. Nhưng kết quả khảo sát của chúng tôi cũng đưa ra những con số đáng chú ý.

Về mặt kinh tế, khảo sát cho biết khả năng đầu tư cho học nghề của con cái các gia đình còn rất hạn chế. Ở Khu Kinh tế Dung Quất, bình quân mỗi hộ dân chỉ có thể đầu tư dưới 200.000 đồng/tháng nếu con cái còn đi học. Còn về chọn nghề, tỉ lệ thanh thiếu niên chọn học nghề hành chính – văn phòng chiếm tỉ lệ cao nhất: 36,6% trong số người được hỏi; trong khi các nghề kỹ thuật chỉ chiếm khoảng nửa tỉ lệ này, như cơ khí 18,2%, kỹ thuật điện 17,6%… Đối với khu vực có cơ sở công nghiệp lớn, đang phát triển mạnh mẽ như nói trên mà tỉ lệ thanh thiếu niên thích học nghề hành chính – văn phòng cao như thế rất đáng để suy nghĩ.

Ngoài ra, khi khảo sát định hướng nghề nghiệp của thanh thiếu niên miền núi, chúng tôi cũng nhận thấy có nhiều sai lệch về chuẩn mực văn hóa nghề ở nhóm người từ 11 – 17 tuổi. Ai cũng biết ở khu vực miền núi rất cần nhiều lao động phổ thông để phát triển, nhưng lại có đến 39,1% muốn chọn nghề dạy học; kế tiếp 17,2% chọn nghề y và 13,5% chọn công việc hành chính – văn phòng.

Xã hội hóa… văn hóa nghề

Chúng ta không thể chỉ giáo dục về kỹ thuật, công nghệ và nâng cao nghiệp vụ chuyên môn đơn thuần; mà phải giáo dục về các chuẩn mực và giá trị lao động, giáo dục về ý thức nghề nghiệp, sự lựa chọn nghề nghiệp, nâng cao khả năng sáng tạo trong lao động cho lao động trẻ, thanh thiếu niên…

Những con số trên rất đáng để bàn thảo, trên cơ sở đó trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực hiện nay, chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến khía cạnh nâng cao văn hóa nghề cho thanh thiếu niên. Nếu công nghiệp hóa được bắt đầu từ chính con người, từ sự nhận thức đúng đắn về quá trình xây dựng, triển khai và phát triển công nghệ và công nghiệp thì vấn đề phát triển nguồn nhân lực phải được xem là một yếu tố quan trọng nhất. Phải khơi dậy được những tiềm năng sẵn có về kinh tế, con người và văn hóa, sự ham học hỏi, lòng say mê và yêu thích lao động sáng tạo của các thế hệ, xã hội hóa công tác đào tạo và học tập, xây dựng những chuẩn mực và giá trị lao động nghề nghiệp mới.

Về phương diện này, rất cần các chính sách, biện pháp của Nhà nước để vừa khuyến khích, động viên vừa ràng buộc trách nhiệm của các nhà quản lý, các nhà đầu tư và sử dụng lao động trong việc phải tham gia tích cực vào công tác đào tạo nguồn nhân lực. Cũng cần sớm xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý, tạo điều kiện để các cơ quan chính quyền, đoàn thể, cộng đồng, gia đình, đặc biệt là ngành giáo dục và LĐ-TB-XH tham gia tích cực trong việc đào tạo kiến thức, chuyên môn và văn hóa nghề cho thanh thiếu niên.

Posted in Uncategorized | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Nâng chất lượng lao động: Cần một chiến lược quốc gia

Posted by thitruonglaodong on August 21, 2008

Lao động giá rẻ không là lợi thế:

Nang chat luong lao dong Can mot chien luoc quoc gia
Sẽ ngày càng có nhiều người nước ngoài nắm giữ các vị trí quản lý chủ chốt trong các DN tại VN. Trong ảnh: Hai giám đốc nhân sự “nội” và “ngoại” đang trao đổi công việc tại một hội thảo. Ảnh: H.THÚY

Chất lượng lao động thấp tác động xấu đến khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Thị trường lao động vẫn đang chập chững những bước đi đầu tiên và gần như hoàn toàn tự phát.

Tại Nhà máy Nghi Sơn (Thanh Hóa), tổng quỹ lương của 20 chuyên gia Nhật Bản bằng tổng quỹ lương của gần 2.000 người VN. Ở một số dịch vụ khác như ngân hàng, y tế… có tới 40% tổng số lao động có thu nhập từ 14.000 USD/năm trở lên là người nước ngoài. Phát biểu trên của Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH Lê Duy Đồng tại một cuộc hội thảo về nguồn nhân lực khi VN gia nhập WTO tổ chức mới đây khiến nhiều người băn khoăn.

Đông nhưng không tinh

Đến cuối năm 2005, tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chiếm 53,4% dân số (trên 44 triệu người). Theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH, có đến 74,7% lực lượng lao động chưa qua đào tạo; còn số lao động đã qua đào tạo cũng không hoàn toàn giỏi nghề. Chính vì vậy, năng suất của lao động VN kém lao động các nước trong khu vực ASEAN từ 2 đến 15 lần.

Ông Nguyễn Tấn Sang, Giám đốc Công ty Cơ khí Trùng Dương (Q. 12, TP.HCM), cho biết: “Khi tuyển lao động, chúng tôi phải đào tạo lại toàn bộ trước khi đưa vào sử dụng”. Thực trạng này dẫn đến nghịch lý: Nguồn nhân lực thì dồi dào nhưng doanh nghiệp (DN) lại luôn kêu thiếu!

Chất lượng lao động thấp sẽ có tác động xấu tới khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Trong khi đó, với lực lượng lao động giản đơn quá lớn sẽ tạo áp lực rất cao cho vấn đề giải quyết việc làm. Một bộ phận lớn lao động ở các khu vực mới đô thị hóa, lao động chuyển dịch từ nông thôn không có tay nghề, lại thiếu cả ý thức, tác phong, thái độ làm việc… càng làm cho mâu thuẫn giữa “thừa” và “thiếu” thêm gay gắt.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Công ty Thực phẩm Phương Liên (Q. 8, TP.HCM), khái quát hình ảnh công nhân của bà trong câu: “Nắng ngủ, mưa nghỉ, mát trời đi chơi”. Tác phong nông dân ấy sẽ gây khó cho cả DN lẫn người lao động.

Phải có “sản phẩm” phù hợp

Khi VN gia nhập WTO, tuy không có cam kết về mở cửa thị trường lao động nhưng chắc chắn sẽ có một dòng chảy lao động nước ngoài vào thị trường trong nước từ các gói dịch vụ do nước ngoài cung cấp. Chất lượng lao động thấp là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vị trí chủ chốt trong DN phải sử dụng người nước ngoài. Để hạn chế dòng chảy này, tức không để thua ngay trên “sân nhà”, cách tốt nhất là nâng cao chất lượng lao động tại chỗ để có thể đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Đây không phải là chuyện của riêng DN hay của người lao động mà đòi hỏi một chiến lược ở tầm quốc gia.

Bộ LĐ-TB-XH đã đưa ra mục tiêu nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo lên 40% vào năm 2010. Trong đó, trọng tâm là dạy nghề cho lực lượng lao động làm việc tại các khu công nghiệp tập trung. Để làm được điều này, kế hoạch của bộ là đầu tư nâng cấp hệ thống trường đào tạo nghề lên ngang tầm khu vực. Dự kiến, sẽ có 25 trường và 10 trung tâm đào tạo được đầu tư từ nguồn vốn ODA. Ngoài ra, 30 trường trọng điểm và khoảng 100 trung tâm dạy nghề của cả nước cũng sẽ được đầu tư nâng cấp.

Tuy nhiên, vấn đề được nhiều DN quan tâm là dạy cái gì và dạy thế nào để “đầu ra” có thể sử dụng; nếu phải đào tạo lại thì chỉ là đào tạo cho phù hợp với thực tế máy móc thiết bị, nội quy, quy trình làm việc tại đơn vị chứ không phải đào tạo lại từ đầu. Trao đổi với chúng tôi, giám đốc nhiều DN nhận định: Sắp tới, việc đào tạo theo địa chỉ chắc chắn sẽ trở thành xu hướng. DN sẽ đặt hàng cho trường nghề để có những sản phẩm phù hợp chứ không để bị động như thời gian qua.

Cần một thị trường lao động thật sự

25% lao động qua đào tạo

- Năm 2005, lực lượng lao động có việc làm là 43,46 triệu người, chiếm 97,9% lực lượng lao động cả nước.

- Tỉ lệ tăng trưởng việc làm 2,67%; cơ cấu việc làm tiếp tục chuyển dịch tích cực: Lao động trong khu vực dịch vụ chiếm 25,33%; công nghiệp và xây dựng chiếm 17,88%; nông nghiệp chiếm 56,79%…

- Lao động qua đào tạo chiếm khoảng 25%, trong đó 19% qua đào tạo nghề.

(Nguồn: Bộ LĐ-TB-XH)

Những năm qua, thị trường lao động VN đã hình thành: Tại các TP lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương… có hàng ngàn trung tâm dịch vụ, giới thiệu việc làm, giúp DN có thêm kênh tuyển chọn lao động.

Tuy nhiên, giám đốc một trung tâm giới thiệu việc làm tại TP.HCM nhìn nhận: Thị trường lao động tại TP.HCM nói riêng và cả nước nói chung vẫn đang chập chững những bước đi đầu tiên – gần như hoàn toàn tự phát. Các hoạt động dịch vụ liên quan đến thị trường lao động chưa hoàn thiện, quy mô thị trường lao động còn hạn chế, lượng người tham gia thị trường lao động còn thấp (chỉ chiếm 20% lực lượng lao động).

Trong định hướng phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010, Bộ LĐ-TB-XH có đề cập đến vấn đề hoàn thiện thị trường lao động bằng cách quy hoạch và phát triển các cơ sở giới thiệu việc làm; đầu tư hiện đại hóa 3 trung tâm ở 3 vùng kinh tế trọng điểm (Bắc, Trung, Nam).

Ngoài ra, sẽ đa dạng hóa các kênh giao dịch trên thị trường lao động; xây dựng các trạm quan sát thông tin thị trường lao động để thu thập, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời… Nếu làm được những điều này, hy vọng thị trường lao động sẽ phát triển đúng hướng, góp phần tạo động lực cho cung – cầu lao động, phục vụ tốt nhất sự phát triển kinh tế đất nước.

Posted in Chính sách, Thị trường lao động, Tin tức | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Dừng tuyển để chấn chỉnh thị trường lao động CH Czech

Posted by thitruonglaodong on August 20, 2008

Đại diện Công ty Airseco (bìa phải, từ một đến ba) trong buổi làm việc với đối tác về việc đưa lao động sang CH Czech làm việc. Ảnh: C.T.V

Trả lời phóng viên Báo Người Lao Động, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý Lao động ngoài nước, cho biết đang tập trung giải quyết thủ tục visa cho người lao động. Khi số lao động đang đợi thủ tục visa còn ít, sẽ xem xét để các doanh nghiệp tiếp tục tuyển lao động

- Phóng viên: Quyết định dừng tuyển thêm lao động sang CH Czech thật sự gây sốc cho nhiều người. Đâu là nguyên nhân sâu xa của quyết định này?

- Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh: Từ năm 2006, các doanh nghiệp (DN) của CH Czech bắt đầu tuyển dụng lao động VN sang làm việc. Từ đó đến nay, chúng ta đã đưa đi được khoảng 2.000 lao động, hầu hết là lao động kỹ thuật các nghề hàn, điện tử, cơ khí và một số ít lao động may mặc. Điều kiện sinh hoạt và làm việc của người lao động tốt, thu nhập bảo đảm. NLĐ yên tâm làm việc, các chủ sử dụng lao động cũng đánh giá tốt lao động VN.

Bên cạnh đó, theo quy định của luật pháp CH Czech, công dân nước ngoài khi có đủ một số điều kiện cần thiết cũng được cấp visa vào CH Czech với mục đích kinh doanh. Theo quy định đó, có rất nhiều công dân VN đã sang CH Séc với mục đích kinh doanh; riêng trong năm 2007, đã có 15.000 người. Tuy nhiên, phần nhiều công dân đi theo hình thức kinh doanh khi sang CH Czech lại xin chuyển sang lao động do không có khả năng kinh doanh. Số công dân này thường không có nghề phù hợp; chưa được đào tạo, phổ biến kiến thức cần thiết nên đã làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh lao động VN tại Czech.

- Dường như trong việc cấp visa cũng có vấn đề?

- Gần đây, tiến độ xin visa của NLĐ sang CH Czech rất chậm. Mấy tháng vừa qua, chỉ có một lượng nhỏ lao động được cấp visa. Trong khi đó, vẫn còn nhiều lao động đã được các DN tuyển chọn, đào tạo, được cơ quan có thẩm quyền của CH Czech cấp giấy phép lao động và đang chờ thủ tục visa để xuất cảnh. Trước tình hình trên, để NLĐ không phải chờ đợi thủ tục quá lâu, Cục Quản lý Lao động ngoài nước đã quyết định yêu cầu các DN dừng tuyển thêm lao động sang thị trường này để tập trung giải quyết thủ tục xuất cảnh cho số lao động đã tuyển.

- Hiện có bao nhiêu DN XKLĐ sang CH Czech? Bao nhiêu người đang chờ cấp visa?

- Đến nay, có hơn 50 DN dịch vụ của VN báo cáo đã ký được hợp đồng cung ứng lao động sang làm việc tại CH Czech. Trong số đó, có 31 DN ký hợp đồng cung ứng lao động và được phép thực hiện hợp đồng cung ứng lao động sang CH Czech (số còn lại đang chờ hoàn thiện thủ tục hồ sơ theo quy định) với tổng số gần 3.000 lao động. Như đã nói, khoảng hơn 2.000 lao động đã xuất cảnh; số còn lại đang trong giai đoạn đào tạo ngoại ngữ, bổ túc tay nghề và chờ làm thủ tục xin cấp visa.

- Để chấn chỉnh tình hình, hạn chế tiêu cực, bảo vệ quyền lợi NLĐ, cục đã có biện pháp hay chỉ đạo gì đối với các DN? Làm thế nào để tránh tình trạng XKLĐ ồ ạt như thời gian qua?

- Để khai thác hiệu quả thị trường CH Czech, phải có các giải pháp đồng bộ, trong đó có giải pháp đối với số người sang CH Czech theo hình thức kinh doanh nhưng thực chất là đi lao động. Riêng với hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn theo hợp đồng, chúng tôi đang hoàn thiện phương án để báo cáo các cấp thẩm quyền. Trong phương án này, chúng tôi đề xuất cho phép những DN có điều kiện như thế nào mới được đưa lao động sang CH Czech; hợp đồng đưa lao động sang CH Czech phải có những điều kiện gì; đưa lao động có tay nghề thế nào sang Czech; đào tạo, phổ biến kiến thức trước khi NLĐ đi ra sao… Chúng tôi đặc biệt chú trọng đến công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi của NLĐ.

- Ông có thể cho biết khi nào sẽ cho phép DN tuyển chọn và đưa lao động sang CH Czech trở lại?

- Như tôi đã nói, Bộ LĐ-TB-XH đã chỉ đạo Cục Quản lý Lao động ngoài nước xây dựng phương án củng cố việc đưa lao động sang làm việc tại Czech. Việc tạm dừng tuyển lao động mới là do số lượng lao động đã được tuyển nhưng chưa được cấp visa quá nhiều, tiến độ cấp visa chậm. Khi số lao động đang đợi thủ tục visa còn ít, chúng tôi sẽ xem xét để các DN tiếp tục tuyển lao động mới đi làm việc tại Czech theo phương án được duyệt.

Posted in Thị trường lao động, Tin tức | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Làm thế nào thâm nhập thị trường lao động Mỹ?

Posted by thitruonglaodong on August 20, 2008

Lam the nao tham nhap thi truong lao dong My
Việc xuất khẩu lao động sang Mỹ cần nhắm đến nhu cầu ngành nghề và trình độ lao động – Ảnh: Đ.N.T

Thị trường lao động Mỹ đang cần rất nhiều lao động ở các ngành nghề khác nhau, trong đó một trong những ngành nghề hiện cực kỳ khan hiếm là y tá. Chúng tôi đã có một cuộc điều nghiên về tình hình thị trường lao động Mỹ từ tháng 12/2006 – khi trở lại Mỹ. Và nhận thấy rằng đây là những thông tin rất cần thiết cho người Việt và có lợi cho nền kinh tế nước nhà.

Sự khan hiếm y tá ở Mỹ

Hoa Kỳ hiện thiếu rất nhiều lao động có kỹ năng (skilled labourer), trong đó có y tá. Nước Mỹ hiện có khoảng 100.000 vị trí y tá còn trống. Con số đó dự kiến tăng lên 434.000 vào năm 2020. Đến nỗi một số bệnh viện đã đưa ra chính sách chiêu mộ y tá bằng cách “thưởng nóng” một khoản tiền 14.000 đến 30.000 USD ngay cho bất cứ y tá có kinh nghiệm nào tình nguyện đầu quân vào bệnh viện của họ. Sự thiếu hụt y tá ngày thêm trầm trọng và buộc các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh ở Mỹ phải thuê mướn nhân viên nước ngoài. Đầu năm 2006, chính quyền Mỹ đã tu chính Luật Di trú, tháo bỏ giới hạn số y tá nước ngoài mà các bệnh viện Mỹ có thể thuê mướn, mở ra nhiều cơ hội để y tá các nước có thể đến hành nghề ở Mỹ…

Trong chuyến đi xuyên bang bằng đường bộ đến các tiểu bang miền Tây và Trung Tây Hoa Kỳ, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người gốc Việt đủ mọi ngành nghề.

Chị N.T.H, một cựu y tá Bệnh viện Từ Dũ TP.HCM nay đang định cư ở California cho biết, chị theo chồng qua đây năm 1993. Qua Mỹ, chị lại theo đuổi nghề y tá. Đến khi tốt nghiệp và vượt qua kỳ thi của State Board năm 1999 cũng là lúc rất nhiều bệnh viện ở California thiếu y tá trầm trọng. Chị nói: “Công việc của y tá ngày một quan trọng và hầu như làm hết mọi việc. Trong ngành y hiện nay ở Mỹ, các bác sĩ chỉ làm những việc quan trọng, còn hầu như họ “giao khoán” hết cho y tá”. Tôi hỏi về mức thu nhập, chị H. cho biết khoảng trên 70.000 USD/năm cộng với tiền làm thêm ở một cơ sở chữa trị gần bệnh viện của chị nữa là gần 100.000 USD/năm. Kể chuyện về cậu con trai, chị H. cho hay lúc vào đại học thì anh này theo chuyên ngành quản trị doanh nghiệp, ra trường qua Atlanta, bang Georgia làm việc với mức lương gần 30.000 USD/năm. Nhưng vào năm 2003, nhân một chuyến về California, sau khi vào thăm mẹ trong bệnh viện, anh này đã bỏ hết công việc, trở lại California và ghi danh học nghề y tá, nay đang học năm thứ hai.

Chúng tôi cũng gặp nhiều người Việt ở Salt Lake City, Los Angeles… tuy đã lớn tuổi, nhưng cũng cố gắng theo học đại học, một số theo học các lớp y tá 2 năm và rất dễ kiếm việc làm. Nhìn chung, tùy theo từng tiểu bang, tùy theo kinh nghiệm nghề nghiệp và bằng cấp (y tá 2 năm, 4 năm hoặc cao học), mức lương dao động từ khoảng 35.000 đến 80.000 USD/năm (không kể làm thêm giờ).

Những kỳ thi NCLEX

Tuy khan hiếm như thế, nhưng không phải bất cứ ai học xong và cầm trong tay mảnh bằng y tá là có thể hành nghề được. Nước Mỹ cần nhiều y tá mà họ gọi là Registered Nurse (RN) tạm dịch: Y tá được hành nghề (đã đăng ký), tức những người đã tốt nghiệp một trường đào tạo y tá và đã vượt qua kỳ thi của Hội đồng quốc gia phụ trách Thi cấp giấy phép hành nghề (NCLEX). Không vượt qua kỳ thi của NCLEX thì dù có bằng y tá trong tay cũng không được hành nghề. Kỳ thi của NCLEX cũng tương tự như các kỳ thi TOEFL (thi trắc nghiệm tiếng Anh) tổ chức khắp nơi trên thế giới nhưng theo một tiêu chuẩn chung.

Đầu năm 2006, chỉ có 3 nơi ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ được phép tổ chức thi NCLEX cho y tá là London (Anh), Seoul (Hàn Quốc) và Hồng Kông. Mới đây thêm 6 nước và vùng lãnh thổ: Canada, Mexico, Ấn Độ, Đức, Nhật và Đài Loan. Với y tá các nước, ngoài những nơi được tổ chức thi NCLEX nói trên, họ phải bay tới Hoa Kỳ để dự kỳ thi NCLEX tốn kém và còn phải vượt qua thủ tục nhập cảnh nước Mỹ.

Các công ty, tổ chức nào dự kiến xuất khẩu lao động Việt Nam qua Mỹ cần lưu ý đến những kỳ thi tương tự như NCLEX nói trên. Hầu hết những ngành nghề của Mỹ đều phải thi lấy chứng chỉ hành nghề rồi mới được làm việc. Chẳng hạn, với nghề làm móng tay, móng chân (nghề nail), sau khi học xong một khóa tại các trường, các trung tâm, thì dù cho trường đó, trung tâm đó có cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp đi nữa thì cũng phải qua kỳ sát hạch của tiểu bang và phải đậu (pass) mới có chứng chỉ được phép hành nghề. Những nghề “cao cấp” như luật sư chẳng hạn, sau khi nhận bằng Juris Doctor (JD) – tức bằng cấp 1 về luật học (a first degree in law), mà người Việt Nam bên Mỹ ưa gọi là “tiến sĩ” (thực ra, trên Juris Doctor còn có Master of Laws – L.L.M. – và bằng tiến sĩ “thật” là Doctor of Juridical Science – S.J.D.) – thì họ còn phải vượt qua kỳ thi ở các tiểu bang mới được hành nghề luật sư. Kỳ thi này không phải dễ: Tiến sĩ Allen Hassan trong cuốn sách của ông Failure To Atone mới xuất bản hồi tháng 9/2006 đã kể rằng, ông phải thi đến 4 lần mới “pass” và mới được ra hành nghề luật sư.

Thị trường lao động Mỹ cần những ngành nghề gì?

Câu trả lời: rất nhiều ngành nghề. Ngoài nghề y tá chúng tôi đã đề cập trên, các công ty, tổ chức xuất khẩu lao động của Việt Nam cần nghiên cứu, tìm hiểu để có kế sách huấn luyện, đào tạo nghề thích hợp và nhất là vốn tiếng Anh tối thiểu trước khi đưa lao động của mình qua xứ người.

Tình hình thu nhập các ngành nghề ở Mỹ như sau: Đối với lao động phổ thông, giá phổ biến từ 8 đến 10 USD/giờ; thợ các loại mới ra trường từ 12 đến 20 USD/giờ. Có những người chỉ là thợ thôi, nhưng là thợ bậc cao, thâm niên, làm được chỗ tốt và có việc làm liên tục, lại chịu khó làm ngoài giờ thì có thể kiếm trên 80.000 USD/năm. Tóm lại, nếu là thợ lành nghề thì không thiếu việc làm (cũng như ở Việt Nam và các nơi khác vậy), nếu giỏi hơn và tiếng Anh thông thạo thì có thể mở công ty riêng hoặc tự mình đi giao dịch thì sẽ kiếm được tiền gấp nhiều lần đi làm công. Nói chung ở Mỹ, nếu nắm trong tay một nghề hợp với nhu cầu thị trường lao động thì mức lương từ 2.500 đến 4.000 USD/tháng là trong tầm tay.

Tuy nhiên, một vấn đề rất cần quan tâm là khoản tiền cọc mà các lao động phải đóng cho các tổ chức xuất khẩu lao động. Mức tiền cọc 15.000 USD cho mỗi lao động đi làm việc ở Mỹ (theo thông tin trên một số báo) là quá cao so với khả năng tài chính của người lao động Việt Nam, nhất là với những hộ nghèo, vốn là đối tượng ưu tiên của các chương trình xóa đói giảm nghèo. Nên chăng có thể tìm biện pháp khác như “tín chấp” chẳng hạn. Việc trốn lại ở nước ngoài – nếu có – chỉ là việc bất đắc dĩ và việc sinh sống bất hợp pháp tại một đất nước pháp quyền như Hoa Kỳ chẳng dễ dàng chút nào.

Philippines hiện là nước xuất khẩu y tá hàng đầu thế giới. Cả nước có hơn 165.000 y tá, trong đó 85% làm việc tại ít nhất 46 quốc gia và vùng lãnh thổ hải ngoại. Sáu quốc gia và vùng lãnh thổ thuê mướn nhiều y tá Philippines là: Hoa Kỳ, Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Anh, Ireland và Đài Loan. Trong những thập niên qua và cho đến nay, Philippines là nguồn cung cấp y tá nước ngoài hàng đầu cho Mỹ.

Do nghề y tá làm việc ở nước ngoài có thu nhập rất cao nên đã xảy ra những hiện tượng lạ: Những năm gần đây, số sinh viên Philippines thi vào đại học y khoa giảm nhiều dẫn đến việc 3 trường Y phải đóng cửa. Theo thống kê, số người dự kỳ thi NMAT (thi tuyển sinh ngành y toàn quốc) vào năm 2000 là 6.245, đến năm 2005 giảm xuống còn 2.912 người. Các sinh viên Philippines đồng ý rằng việc họ nay không mấy quan tâm theo đuổi ngành y để trở thành bác sĩ có nguyên nhân chính là kinh tế: học lâu mà kiếm tiền lại ít. Thu nhập trung bình của các bác sĩ ở bệnh viện, cơ sở chữa trị công lập từ 300 đến 550 USD/tháng, lương y tá trung bình 160 USD/tháng, trong khi đó những y tá đồng nghiệp với họ đang lao động ở nước ngoài kiếm được từ 3.000 đến 5.000 USD/tháng, riêng tại Mỹ tiền công trả cho y tá mỗi giờ từ 30 đến 45 USD cộng với tiền phụ trội – nếu làm thêm ngoài giờ từ 15 đến 20 USD/giờ nữa.

Do vậy, đã xảy ra một nghịch lý đáng nói là một số lượng lớn các bác sĩ đã chuyển qua học nghề y tá. Trong thời gian từ 2003 đến 2005, đã có hơn 4.000 bác sĩ Philippines dự thi lấy bằng hành nghề y tá và hiện nay, khoảng 3.000 bác sĩ đã ghi danh học ở hơn 45 trường đào tạo y tá. Họ đã chuyển nghề từ “chữa trị” xuống “chăm sóc” với lý do là để có cơ hội đi nước ngoài và nhận được thu nhập cao hơn nhiều lần. (Nguồn: Hội đồng điều phối ngành nghề Philippines – PRC – 2005).

Posted in Thị trường lao động, Tin tức | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Thị trường lao động Macau: Không chỉ là cơ hội

Posted by thitruonglaodong on August 20, 2008

Thi truong lao dong Macau Khong chi la co hoi
Người LĐ Việt Nam chuẩn bị xuất cảnh đi làm việc tại nước ngoài.

Sau khi phía Đài Loan đóng cửa thị trường lao động giúp việc gia đình với nước ta, Macau trở thành mục tiêu cho không ít DN vốn duy trì hoạt động bằng 2 thị trường chính là Malaysia và Đài Loan.

Cơ hội cho lao động giúp việc gia đình, dịch vụ

Mặc dù thị trường Macau mới được khai phá cách đây chưa lâu nhưng tới nay, Bộ LĐTBXH đã cho phép 10 DN được khai thác thị trường này. Thống kê cho thấy trong 6 tháng đầu năm có hơn 200 lao động được đưa sang Macau làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực: Giúp việc gia đình, dịch vu… Nhiều DN hiện đang có hợp đồng cung ứng lao động cho Macau với số lượng khoảng vài trăm người mỗi tháng.

Nghiên cứu về thị trường Macau từ Hiệp hội Xuất khẩu lao động (VAMAS) cũng cho biết, năm 2006 có khoảng 70.000 lao động nước ngoài làm việc tại Macau trong các ngành nghề dịch vụ khách sạn, nhân viên nhà hàng, giúp việc gia đình… Riêng nhu cầu nhận lao động giúp việc gia đình ở Macau đang có xu hướng tăng lên, tuy nhiên số lượng sẽ không nhiều vì tại Macau hiện chỉ có 180.000 gia đình, trong đó khoảng 70.000 gia đình đang nhận người giúp việc.

Nhận định về tiềm năng của thị trường Macau, ông Chu Minh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Cty cổ phần cung ứng nhân lực quốc tế và thương mại Sông Đà (Simco) cho biết, sau thị trường Đài Loan, thị trường Macau rất tiềm năng. Hiện nay Simco đã đưa được 14 lao động sang Macau làm việc và sẽ có thêm các đợt xuất cảnh tiếp.

Ông Tuấn cho biết thêm, do sẵn có kinh nghiệm từ việc khai thác thị trường giúp việc gia đình Đài Loan, đồng thời số lượng lao động đã hết hạn hợp đồng về nước từ Đài Loan với khả năng kinh nghiệm và giao tiếp tiếng Trung tốt sẽ khiến cho người lao động nước ta nhanh chóng khẳng định được kinh nghiệm tại thị trường này.

Trao đổi với Lao Động, ông Nguyễn Xuân An, Tổng thư ký VAMAS cho biết, thị trường Macau còn có nhu cầu về lao động trong ngành dịch vụ như bảo vệ, phục vụ bàn, bảo trì máy móc… Tuy nhiên, những vị trí này yêu cầu người lao động phải giao tiếp tốt tiếng Quảng Đông nên ngay từ bây giờ, nếu DN có chiến lược đào tạo ngoại ngữ cho lao động bài bản phục vụ riêng thị trường này thì đây cũng là cơ hội tốt.

Không chỉ là cơ hội

Nghiên cứu về thị trường Macau từ VAMAS cho biết, lao động phổ thông và lao động giúp việc gia đình khi sang Macau làm việc đều phải nhập cảnh bằng visa du lịch. Nếu là lao động phổ thông đã được chủ tuyển chọn, người lao động sẽ được chủ làm thủ tục xin cấp thẻ xanh để có thể làm việc hợp pháp. Nếu là lao động giúp việc gia đình, người lao động phải tập trung tại các Cty môi giới lao động của Macau để đợi chủ đến tuyển chọn. Nếu được chọn, chủ sử dụng lao động sẽ ký hợp đồng và làm thủ tục để đổi visa cho người lao động có thể làm việc hợp pháp.

Sẽ không có nhiều điều để nói nếu các DN xuất khẩu lao động nước ta không hướng mục tiêu vào thị trường giúp việc gia đình. Ông Nguyễn Hồng Hà, Giám đốc Trung tâm Xuất khẩu lao động thuộc Công ty Vạn Hoa (Hải Phòng) cho rằng, chính sách về lao động giúp việc gia đình như trên của Macau khiến người lao động và Cty xuất khẩu lao động sẽ chịu rủi ro lớn. Bởi theo chính sách này, người lao động sau khi nhập cảnh vào Macau mới được biết chủ sử dụng lao động là ai và ký hợp đồng với chủ, trái ngược với quy trình đưa lao động đi làm việc tại nước ngoài của ta hiện nay.

Thêm nữa, khi đó, Cty môi giới DN xuất khẩu lao động cũng như chính người lao động cũng không biết chắc mình có được chủ chọn hay không, thời gian ký kết hợp đồng là bao nhiêu, lương như thế nào… (Ở Macau không có quy định về lương tối thiểu cho lao động giúp việc gia đình). Điều này sẽ rất rủi ro, bởi không thể loại trừ trường hợp sẽ có nhiều lao động đã sang Macau nhưng không được chủ chọn.

Posted in Thị trường lao động | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Không thể tách rời thị trường lao động

Posted by thitruonglaodong on August 19, 2008

Các trường tham gia triển lãm kết quả của DA POHE.
Giáo dục đại học theo định hướng nghề nghiệp (ĐHNN) là mục tiêu chung của các trường, tuy nhiên việc triển khai chưa đồng bộ và còn nhiều vướng mắc.

Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, hiện cả nước chỉ có 25 trường ĐH đạt tỉ lệ 60% sinh viên tốt nghiệp làm đúng ngành đào tạo.

Từ “tháp ngà” sang “cơ sở mở”

Đó là khẳng định của ông Arjian Koeslag – cố vấn trưởng dự án GDĐH theo ĐHNN (POHE) tại Việt Nam. Đây sẽ là sự chuyển biến cần thiết từ cách giảng dạy “hàn lâm”, nặng về lý thuyết sang một chương trình thực hành, nhiều tính ứng dụng. Đồng thời, nó cũng đòi hỏi sự năng động của các trường ĐH trong việc tìm hiểu nhu cầu của thị trường LĐ, định hướng cho SV tìm đến DN.

Theo khảo sát của khoa Nông học-ĐH Nông nghiệp HN, 86% SV năm I thích học chương trình mới. Điều này cho thấy tính khả thi của việc áp dụng POHE. TS Ngô Xuân Bình-Phó trưởng khoa Nông học-ĐH Nông Lâm Thái Nguyên cho biết: “Với mục tiêu lấy người học làm trung tâm, chúng tôi đã giảm thiểu các môn đại cương không cần thiết. Thời gian thực hành của SV tăng lên gấp 3 lần, giảng dạy thiên về kỹ năng và phương pháp làm việc”.

Chương trình giảng dạy hầu như được xây dựng mới hoàn toàn, 8 trường tham gia DA POHE đều phải tiến hành những khảo sát công phu nhu cầu LĐ trên địa bàn của mình. GV Phạm Thanh Tùng – ĐH SPKT Hưng Yên tâm sự: “Bắt đầu năm học, chúng tôi tổ chức các khoá học ĐHNN cho SV, sau đó lập hồ sơ mô tả nghề nghiệp, năng lực để xây dựng cấu trúc bài giảng. Song song với đó là tạo phương pháp học cho SV và thiết lập mối quan hệ với các DN”.

Vẫn “tiện đâu làm đấy”

Mặc dù POHE được triển khai từ năm 2005 nhưng những kết quả đạt được mới chỉ ở dạng văn bản bởi năm 2007 các trường trong DA mới bắt đầu tuyển sinh khoá đầu tiên. TS Trần Đức Viên-Hiệu trưởng ĐH Nông nghiệp HN, nhấn mạnh: “Các trường chủ yếu vẫn trong tình trạng “ăn đong” do chưa có khung chương trình thống nhất. Mỗi trường thực hiện một kiểu, vừa dạy theo cách truyền thống vừa áp dụng POHE. Đội ngũ GV chưa theo kịp phương pháp ĐT mới nên việc thực hiện thiếu đồng bộ”.

Bên cạnh đó, mối liên kết giữa nhà trường và DN còn khá lỏng lẻo trong khi trọng tâm của POHE là tiếp cận, tìm hiểu nhu cầu của DN để ĐHNN cho SV. Ông Đỗ Sỹ Cường-Phó hiệu trưởng ĐH Hoa Sen, TPHCM băn khoăn: “Làm thế nào để có sự phối hợp tốt giữa nhà trường và DN, đặc biệt là DN vừa, nhỏ vẫn là bài toán khó giải”. Còn TS Viên nêu ra đề xuất: “Nhà nước cần thể chế hoá mối liên kết giữa DN và nhà trường. Nhà trường và DN vẫn gắn kết dựa trên tình cảm là chính chứ chưa có sự ràng buộc trách nhiệm của hai bên”.

Hội thảo quốc gia “GDĐH theo ĐHNN” được tổ chức thể hiện nỗ lực của Bộ nhằm cải tiến phương pháp ĐT nguồn nhân lực. Tuy nhiên, sự thành công tuỳ thuộc vào sự năng động, nhạy bén của các trường khi thích ứng với CT mới.

8 trường tham gia DA POHE: ĐH Kinh tế quốc dân HN, ĐH Nông Nghiệp HN, ĐH Nông lâm Thái Nguyên, ĐHSP Thái Nguyên, ĐH SPKT Hưng Yên, ĐH Vinh, ĐH Nông lâm Huế, ĐH Nông lâm TPHCM.

GS-TSKH Bành Tiến Long-Thứ trưởng Bộ GD&ĐT: Cần xây dựng tam giác phát triển DN – nhà trường – nhà nước

Quyền tự chủ ở cấp trường là vấn đề mới nổi, kết quả là các trường bắt đầu coi tính thích ứng của CTĐT, phương thức dạy và học, chất lượng SV là trách nhiệm riêng của nhà trường. Tuy nhiên, sự hợp tác cùng phát triển của cả 3 bên rất cần thiết. DN, đóng vai trò quyết định, nhà nước hỗ trợ bằng những chính sách hợp lý, kịp thời để ĐHNN cho SV đạt kết quả tốt nhất.
T.C ghi
Bà Đỗ Ngọc Anh-Hiệu phó ĐH Văn hoá TPHCM: Chưa có sự phân định rõ ràng

Chúng tôi vẫn ĐHNN cho SV nhưng vẫn chưa thể thay đổi được phương pháp giảng dạy, tăng thời gian thực hành bởi vẫn bị bó buộc trong chương trình khung của bộ. Bên cạnh đó, vẫn chưa có sự phân định rõ giữa ĐT theo định hướng nghiên cứu hay ứng dụng hay kết hợp cả hai.
H.Yến ghi
GS Nguyễn Văn Nam-Hiệu trưởng ĐH KTQD HN: Kết hợp các trường ĐT du lịch thành một mạng lưới

Ngành tham gia DA của trường là du lịch, sắp tới chúng tôi sẽ đưa vào sử dụng một khách sạn mini 8 phòng để SV thực tập. Để triển khai ĐHNN hiệu quả, các trường ĐT du lịch cần kết hợp thành một mạng lưới để xây dựng một chương trình có giá trị sử dụng lâu dài.
T.Cúc ghi
Ông Ngô Tấn Lực-Hiệu trưởng ĐH Tiền Giang: Cần sự phân bố tài chính hợp lý

ĐH Tiền Giang đi lên từ CĐ cộng đồng nên việc ĐHNN đã có. Thời gian thực hành của SV đã lên tới 60-70%. Tuy nhiên, Bộ cần có sự phân bổ tài chính hợp lý. Không có nguồn hỗ trợ sẽ rất khó triển khai DA trên diện rộng.

Posted in Thị trường lao động, Tin tức | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Thị trường lao động Việt Nam vẫn ít tranh chấp!

Posted by thitruonglaodong on August 19, 2008

Tuy trong thời gian gần đây, những cuộc đình công bắt đầu diễn ra phổ biến hơn, do tác động của chế độ tiền lương tối thiểu mới với các doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài, thị trường lao động Việt Nam vẫn thuộc loại ít tranh chấp, và phương tiện bảo vệ người lao động kém hiệu quả. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á.

Thị trường lao động ít tranh chấp

AM 46939 gi đến 996 để nhn ảnh này
Trong những năm qua, đình công ít xảy ra ở Việt Nam.

Ở Việt Nam ít tranh chấp lao động. Mặc dù số lượng đình công đã tăng trong những năm gần đây. Những dữ liệu do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thu thập cho thấy có tối đa là 700 cuộc đình công kể từ khi áp dụng Bộ luật Lao động năm 1994. Hầu hết những cuộc đình công này đều ở các công ty nước ngoài ở miền Nam. Song ngay cả ở đó, các cuộc đình công vẫn là sự kiện hiếm xảy ra. Trong số đó, chỉ có 100 cuộc đình công trong năm 2003, vào thời điểm này có khoảng 2.650 công ty nước ngoài đang hoạt động.

Khu vực tư nhân trong nước thậm chí còn ít bị gián đoạn vì đình công hơn nữa. Trong năm 2003, vào thời điểm số lượng doanh nghiệp tư nhân trong nước lên đến 65.000 doanh nghiệp thì vẫn có chưa đến 40 cuộc đình công.

Các báo cáo cho thấy hầu hết các cuộc đình công đều xuất phát từ vi phạm pháp luật hoặc hợp đồng, trong đó có không trả lương và phúc lợi, không đóng Bảo hiểm xã hội, và không trả tiền đền bù do cắt đứt hợp đồng. Trong một số trường hợp, tranh chấp lao động nảy sinh do công nhân yêu cầu được làm việc ngoài giờ vượt quá qui định của luật.

Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002 qui định các qui trình thủ tục phải thực hiện trong trường hợp có tranh chấp lao động tập thể. Về nguyên tắc, trong trường hợp có mâu thuẫn, phải nộp đơn bằng văn bản đề nghị hoà giải lên Hội đồng Hoà giải lao động trong doanh nghiệp và hội đồng này phải có biện pháp trong vòng bảy ngày. Nếu một trong hai bên phản đối đề xuất giải quyết tranh chấp của Hội đồng Hoà giải lao động thì có thể đưa lên Hội đồng Trọng tài lao động, Hội đồng này sẽ bắt đầu làm việc trong vòng mười ngày từ khi nhận được đơn bằng văn bản nộp lên. Nếu một trong hai bên không đồng ý với giải pháp được đề xuất thì vấn đề này có thể đưa lên Toà án Nhân dân. Song ở giai đoạn này, Ban Chấp hành công đoàn có thể quyết định đình công dựa trên cơ sở bỏ phiếu kín. Một cuộc đình công xảy ra trong khi đang tiến hành quá trình hoà giải hoặc không được quá nửa số công đoàn viên tán thành bị coi là không hợp pháp.

Mặc dù tất cả các cuộc đình công về mặt kỹ thuật đều là không hợp pháp song hầu như chưa bao giờ các doanh nghiệp ở Việt Nam cần đến các chế tài xử phạt có thể áp dụng đối với những người tham gia đình công trái luật pháp. Sự can thiệp của bên công an đối với những người lao động đình công cũng không nằm trong phản ứng của Chính phủ. Trên thực tế, các tranh chấp lao động tập thể vẫn được giải quyết thông qua các kênh khác. Ví dụ, cán bộ quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp yêu cầu Sở LĐTBXH đóng vai trò làm trung gian hoà giải dù đây không thuộc về nhiệm vụ chính thức của Sở LĐTBXH.

Vai trò yếu của công đoàn và thanh tra lao động

Hầu thế các xí nghiệp đều có công đoàn, song nhiều công đoàn này không hoạt động trên thực tế và một số công đoàn chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Công đoàn trong các doanh nghiệp nhà nước hoạt động tích cực hơn. Song chỉ có 1/3 các công ty nước ngoài và 15% các doanh nghiệp tư nhân trong nước có thoả ước tập thể. Cũng tương tự như vậy, một cuộc điều tra cho Viện Khoa học xã hội thực hiện tại 24 doanh nghiệp cho thấy chỉ có 16% người lao động cảm thấy công đoàn có vai trò trong giải quyết tranh chấp.

Thanh tra lao động cũng không phải là một cơ chế hữu hiệu lắm để thực thi các tiêu chuẩn lao động. Vào thời điểm năm 2004, ban thanh tra lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có đội ngũ cán bộ khoảng 300 thanh tra và cán bộ có liên quan. Kể từ năm 1995 mới chỉ tiến hành thanh tra ở 1.635 doanh nghiệp. Nhưng trong cuộc điều tra về môi trường đầu tư của Ngân hàng Thế giới thực hiện trong năm 2005, những người trả lời điều tra không biết rõ về các lần làm việc của thanh tra lao động, các đợt làm việc này được coi hoặc không hữu ích lắm hoặc không hữu ích; có lẽ vì số lần thanh tra không nhiều. Và họ cũng không cần những lần làm việc này lắm. Thống kê câu trả lời cũng cho thấy, trong khoảng 1/4 số lần thanh tra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội “có mong chờ quà hoặc các khoản thanh toán không chính thức”.

Bộ quy tắc ứng xử đang tiến triển ở các doanh nghiệp

Trên thế giới hiện có khoảng 1.000 bộ quy tắc ứng xử, phần lớn là do cá nhân các công ty tự đặt ra dựa trên yêu cầu kinh doanh.  Không phải tất cả các quy tắc này đều được áp dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều nhà cung ứng làm ăn với không chỉ một khách hàng, nên họ sẽ phải tuân thủ không chỉ một bộ quy tắc ứng xử. Một số nhà cung ứng lớn có khi phải tuân thủ tới 6 bộ quy tắc.

Và theo đó, một số lượng đáng kể người lao động phải tuân thủ các quy tắc do các công ty đưa ra.  Ví dụ, Nike, một công ty sản xuất giày, ước tính rằng có tới 84.000 công nhân phải tuân theo các quy tắc ứng xử của công ty tại 34 doanh nghiệp Việt Nam nằm trong dây chuyền cung ứng. Adidas-Salomon, một đối thủ cạnh tranh, thì cho biết có gần 43.000 công nhân đang thực hiện các quy tắc ứng xử của công ty này. Thậm chí, các bộ quy tắc ứng xử này có vẻ mang tính chất bắt buộc. Năm 2004, Adidas-Salomon đã chấm dứt quan hệ làm ăn với một trong số các nhà cung ứng vì lý do bắt công nhân làm việc quá giờ, thiếu các hệ thống tính giờ, chi trả lương thưởng không đúng qui định, thiếu sự trao đổi thông tin giữa người lao động và nhà quản lý, và thiếu các điều kiện về y tế, an toàn lao động và môi trường.

Đồng thời, ngày càng có nhiều doanh nghiệp chứng tỏ cam kết thực hiện các trách nhiệm xã hội bằng cách tuân thủ các hệ thống cấp chứng chỉ doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn như WRAP và SA8000. Việt Nam có 27 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ SA8000 trong tháng 9/2005, với gần 28.000 công nhân.  Điều này đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ 5 trên toàn thế giới (sau Trung Quốc, Ấn Độ, Ý và Brazil) xét về số lao động được tham gia.

Posted in Thị trường lao động | Tagged: , , , , , , | Leave a Comment »

Sự nghiệp của Bác Tôn gắn liền với lịch sử cách mạng vẻ vang

Posted by thitruonglaodong on August 19, 2008

Ông Lê Văn Em, Chủ tịch CĐ XNLH Ba Son (giữa), trao học bổng Tôn Đức Thắng cho con CB-CNV của đơn vị. Ảnh: L. Minh

Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, noi gương Chủ tịch Tôn Đức Thắng – Nhiều hoạt động kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Ngày 18-8, tại Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Chính phủ, Quốc hội, Ủy ban Trung ương MTTQ VN và TP Hà Nội đã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20.8.1888 – 20.8.2008).

Tham dự lễ có Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ VN Huỳnh Đảm; đại diện các bộ, ngành, cán bộ lão thành cách mạng, các mẹ VN anh hùng, các tầng lớp nhân dân thủ đô, đại biểu tỉnh An Giang cùng gia quyến Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

Theo TTXVN, trong diễn văn tại lễ kỷ niệm, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nhấn mạnh: Với hơn 70 năm cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng CNXH, tên tuổi, sự nghiệp của đồng chí Tôn Đức Thắng gắn liền với lịch sử vẻ vang của cách mạng nước ta trong thế kỷ XX. Suốt đời phấn đấu cho lý tưởng của Đảng, vượt qua mọi thử thách nghiệt ngã trong lao tù đế quốc và sự khốc liệt của chiến tranh, luôn gắn bó với đồng chí, đồng bào; cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, đồng chí Tôn Đức Thắng là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, một trong những nhà lãnh đạo mẫu mực của cách mạng VN.

Chủ tịch nước cũng yêu cầu toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, noi gương Chủ tịch Tôn Đức Thắng, quyết phấn đấu đưa sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đến thắng lợi.

Thay mặt cán bộ, nhân dân tỉnh An Giang, đồng chí Nguyễn Hoàng Việt, Bí thư Tỉnh ủy, ôn lại những tình cảm gắn bó, cảm động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng với đồng bào, chiến sĩ An Giang. Thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với Bác Tôn, nhân dân An Giang quyết

tâm vượt qua mọi thử thách, khắc phục thiên tai; nỗ lực phấn đấu, phát động nhiều phong trào thi đua thiết thực để xây dựng An Giang ngày càng giàu mạnh.

Đại diện cho thế hệ công nhân trẻ của thủ đô, chị Hoàng Bích Hạnh bày tỏ những tình cảm, suy nghĩ của mình về hình ảnh người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết, niềm tự hào của giai cấp công nhân và dân tộc VN. Đội ngũ CNVC-LĐ thủ đô sẽ mang hết tâm huyết, trí tuệ, sức lực, tập trung thi đua lao động sản xuất, tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, xây dựng nếp sống văn hóa công nghiệp, thực hiện thắng lợi các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội của thủ đô và đất nước.

- Sáng 18-8, tại Nhà Tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (đình Bình Đông, phường 7, quận 8 – TPHCM), Quận ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ quận 8 tổ chức lễ mít- tinh kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Bà Đổng Thị Kim Vui, Bí thư Quận ủy quận 8, ôn lại cuộc đời hoạt động của Bác Tôn và khẳng định: “Tự hào về Bác Tôn kính yêu, Đảng bộ, chính quyền và giai cấp công nhân, nhân dân lao động quận 8 xin nguyện phấn đấu hết sức mình để xây dựng TP, xây dựng địa phương phát triển văn minh, hiện đại”.

- Chiều cùng ngày, tại TP Long Xuyên (An Giang) đã diễn ra triển lãm ảnh về cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng và hội thi Ảnh nghệ thuật An Giang 2008 để chào mừng kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác Tôn.

Thời gian qua, tỉnh An Giang đã diễn ra nhiều hoạt động để tưởng nhớ Người như: Cuộc thi tìm hiểu về “Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng” với gần 88.000 bài dự thi; hội thảo khoa học với chủ đề “Tôn Đức Thắng- Một nhân cách lớn”. LĐLĐ tỉnh An Giang cũng đã trao 48 suất học bổng Tôn Đức Thắng cho con CNVC-LĐ nghèo hiếu học.

- Sáng cùng ngày, CĐ Xí nghiệp Liên hợp Ba Son – Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng long trọng tổ chức lễ mít- tinh kỷ niệm năm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng và trao học bổng Tôn Đức Thắng lần thứ 17 cho 280 học sinh, sinh viên, đặc biệt trong đó có 14 học sinh đạt danh hiệu Tài năng trẻ. Mỗi suất trị giá từ 200.000 đồng đến 1,3 triệu đồng.

Posted in Tin tức | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

Bác Tôn với sự nghiệp bảo vệ hòa bình

Posted by thitruonglaodong on August 19, 2008

Đoàn đại biểu thanh niên “5 xung phong” miền Nam quây quần bên Bác Tôn (ngày 15-5-1973). Ảnh: T Liệu

Năm 1956, Bác Tôn là người VN đầu tiên được Nhà nước Liên Xô trao tặng giải thưởng hòa bình quốc tế cao quý “Vì sự nghiệp và hữu nghị giữa các dân tộc”

Đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, vấn đề quan trọng hàng đầu sau khi làm cách mạng giành được chính quyền là bảo vệ hòa bình. Hòa bình trong nước để củng cố chính quyền non trẻ, hòa bình thế giới để đoàn kết và hợp tác quốc tế phát triển.

Bảo vệ hòa bình là nhiệm vụ cách mạng

Sau Cách mạng Tháng Tám, Bác Hồ chỉ rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng… Nhưng càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới… Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa bình. Khi trở thành người bạn chiến đấu gần gũi, thân thiết với Bác Hồ, Bác Tôn đã cùng toàn Đảng, toàn dân đem hết sức lực, trí tuệ và nhiệt tình thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa bình.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, những người có lương tri khắp nơi đứng lên bảo vệ hòa bình, đưa đến việc tổ chức Đại hội Các chiến sĩ hòa bình tại Paris (tháng 4-1949), thành lập Hội đồng Hòa bình thế giới. Ngày đó, tuy phải tập trung sức người sức của để đánh thắng quân xâm lược, nhưng nước ta đã cử một đoàn đại biểu tham dự Đại hội Các chiến sĩ hòa bình ở Paris và trở thành thành viên sáng lập Hội đồng Hòa bình thế giới. Ngày 19-11-1950, tại Việt Bắc, đã diễn ra Đại hội thành lập Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của VN (về sau đổi tên thành Ủy ban Hòa bình VN) dưới sự chủ trì của Bác Tôn. Tham dự đại hội có đông đảo các tầng lớp nhân dân, các giới trí thức, tôn giáo. Bác Hồ được tôn vinh là chiến sĩ hòa bình số 1 của VN. Bác Tôn được tôn vinh làm Chủ tịch danh dự Ủy ban Hòa bình VN.

Cống hiến của Bác Tôn với hòa bình thế giới

Sau khi ra đời, Ủy ban Hòa bình VN vận động nhân dân tích cực hưởng ứng các “Lời kêu gọi” của Hội đồng Hòa bình thế giới đòi cấm vũ khí hạt nhân, đòi 5 nước lớn ký công ước hòa bình. Hưởng ứng Tuyên ngôn Berlin của Hội đồng Hòa bình thế giới (1951), Bác Tôn lúc đó là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, “kêu gọi toàn dân VN ký tên vào Tuyên ngôn về Công ước hòa bình, tỏ rõ ý chí đấu tranh cho hòa bình, dân chủ thế giới”. Bất chấp những khó khăn, nguy hiểm thời chiến, lời kêu gọi của Bác Tôn thu được 5 triệu chữ ký của nhân dân các vùng giải phóng cũng như tạm chiếm.

Tháng 6-1960, cuộc gặp thượng đỉnh lần đầu tiên giữa hai siêu cường Liên Xô – Mỹ bàn biện pháp giảm tình hình căng thẳng trên thế giới. Dịp này, quốc hội nhiều nước tìm cách tác động để cuộc gặp song phương đó đạt kết quả mong muốn về bảo vệ hòa bình thế giới. Bác Tôn với danh nghĩa Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đã trao đổi công hàm với chủ tịch Ủy ban Hòa bình của các nghị sĩ Ấn Độ, trong đó nhấn mạnh: “Vấn đề rất quan trọng hiện nay trên thế giới là vấn đề hòa bình… Các nghị sĩ trên thế giới có trách nhiệm hàng đầu làm cho tình hình thế giới êm dịu thêm”.

Cống hiến lớn lao của Chủ tịch Tôn Đức Thắng cho độc lập dân tộc và hòa bình thế giới, cho đoàn kết giữa nhân dân VN với nhân dân các nước, được bạn bè quốc tế khâm phục và đánh giá cao. Năm 1956, Bác Tôn là người VN đầu tiên được Nhà nước Liên Xô trao tặng giải thưởng hòa bình quốc tế cao quý “Vì sự nghiệp và hữu nghị giữa các dân tộc”.

Posted in Chính sách, Thị trường lao động, Tin tức, Việc làm | Tagged: , , , , , , , , , , , , , , | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.